Tác giả: tpadmin

Tại diễn đàn cấp cao của ngành sản xuất thực phẩm diễn ra ở TP.HCM ngày 19/5, ông Châu Thịnh Lân – Giám đốc Công ty TNHH chế biến thực phẩm Việt Ấn nhận định, xu hướng tiêu dùng thực phẩm tại thị trường Việt Nam trong tương lai sẽ theo xu thế phát triển của xã hội công nghiệp. Theo đó, người tiêu dùng sẽ giảm sử dụng các sản phẩm thực phẩm theo lối truyền thống để chuyển dần sang các sản phẩm chế biến sẵn.

Riêng đối với thực phẩm chế biến ăn liền vẫn còn dư địa lớn, đây là phân khúc mà các doanh nghiệp nhỏ có thể tránh việc cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp lớn để có thể đi thẳng vào các kênh phân phối bán lẻ.

Xu hướng chế biến sẵn cũng đã xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường nước chấm và gia vị. Các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước liên tục tạo ra những sản phẩm mới theo hướng pha trộn sẵn, mang đến sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian cho người dùng. Do đó, để cạnh tranh được trên thị trường, các doanh nghiệp nội phải tạo ra sự khác biệt thì mới có được phân khúc thị trường riêng.

Các chuyên gia nhận định, các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ cũng sẽ được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo ông Lân, nước ta có lợi thế để sản xuất các sản phẩm hữu cơ. Dù sản lượng của những sản phẩm này có thể không cao như sản phẩm công nghiệp nhưng giá trị gia tăng có thể gấp 5 lần. Đây sẽ là hướng đi cho các doanh nghiệp Việt muốn tránh cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn lớn.

Theo nhiều chuyên gia, thách thức lớn của ngành công nghiệp thực phẩm hiện nay ngoài việc sản xuất vẫn mang tính thủ công, chưa tinh chế sâu, chủ yếu cạnh tranh về giá, mạng lưới phân phối thiếu tính liên kết; vấn nạn sử dụng chất phụ gia, tẩy trắng, thuốc kháng sinh sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng xuất khẩu và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp.

Để gia tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp, Phó giáo sư Chutima Waisaravutt (Đại học Kasetsart, Thái Lan) cho rằng, doanh nghiệp cần lắng nghe và thấu hiểu người tiêu dùng. Theo bà Chutima, người tiêu dùng hiện nay coi thực phẩm không chỉ để đưa vào dạ dày mà còn là phong cách sống. Bên cạnh đó, với sự phát triển của các ứng dụng công nghệ thông tin vào thương mại điện tử, thói quen mua hàng của người dùng cũng thay đổi. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm có thể trực tiếp phân phối các sản phẩm của mình đến khách hàng qua internet. Tuy nhiên, cần hoàn thiện khâu tiếp thị sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và giao nhận.

Rõ ràng, để nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp thực phẩm nội sẽ còn nhiều việc phải làm, trong đó có việc đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), đẩy mạnh công nghệ. Theo các khảo sát, đầu tư cho R&D trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống thấp hơn so với các lĩnh vực khác từ 0,3 đến 0,8%.

NHỮNG XU HƯỚNG CHI PHỐI NGÀNH CHẾ BIẾN THỰC PHẨM

Tại diễn đàn cấp cao của ngành sản xuất thực phẩm diễn ra ở TP.HCM ngày 19/5, ông Châu Thịnh Lân – Giám đốc Công ty TNHH chế biến thực phẩm Việt Ấn nhận định, xu hướng tiêu dùng thực phẩm tại thị trường Việt Nam trong tương lai sẽ theo xu thế phát triển của xã hội công nghiệp. Theo đó, người tiêu dùng sẽ giảm sử dụng các sản phẩm thực phẩm theo lối truyền thống để chuyển dần sang các sản phẩm chế biến sẵn.

Riêng đối với thực phẩm chế biến ăn liền vẫn còn dư địa lớn, đây là phân khúc mà các doanh nghiệp nhỏ có thể tránh việc cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp lớn để có thể đi thẳng vào các kênh phân phối bán lẻ.

Xu hướng chế biến sẵn cũng đã xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường nước chấm và gia vị. Các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước liên tục tạo ra những sản phẩm mới theo hướng pha trộn sẵn, mang đến sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian cho người dùng. Do đó, để cạnh tranh được trên thị trường, các doanh nghiệp nội phải tạo ra sự khác biệt thì mới có được phân khúc thị trường riêng.

Photo:

Các chuyên gia nhận định, các sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ cũng sẽ được người tiêu dùng ưa chuộng. Theo ông Lân, nước ta có lợi thế để sản xuất các sản phẩm hữu cơ. Dù sản lượng của những sản phẩm này có thể không cao như sản phẩm công nghiệp nhưng giá trị gia tăng có thể gấp 5 lần. Đây sẽ là hướng đi cho các doanh nghiệp Việt muốn tránh cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn lớn.

Theo nhiều chuyên gia, thách thức lớn của ngành công nghiệp thực phẩm hiện nay ngoài việc sản xuất vẫn mang tính thủ công, chưa tinh chế sâu, chủ yếu cạnh tranh về giá, mạng lưới phân phối thiếu tính liên kết; vấn nạn sử dụng chất phụ gia, tẩy trắng, thuốc kháng sinh sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng xuất khẩu và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp.

Để gia tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp, Phó giáo sư Chutima Waisaravutt (Đại học Kasetsart, Thái Lan) cho rằng, doanh nghiệp cần lắng nghe và thấu hiểu người tiêu dùng. Theo bà Chutima, người tiêu dùng hiện nay coi thực phẩm không chỉ để đưa vào dạ dày mà còn là phong cách sống. Bên cạnh đó, với sự phát triển của các ứng dụng công nghệ thông tin vào thương mại điện tử, thói quen mua hàng của người dùng cũng thay đổi. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm có thể trực tiếp phân phối các sản phẩm của mình đến khách hàng qua internet. Tuy nhiên, cần hoàn thiện khâu tiếp thị sản phẩm, dịch vụ hậu mãi và giao nhận.

Rõ ràng, để nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp thực phẩm nội sẽ còn nhiều việc phải làm, trong đó có việc đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), đẩy mạnh công nghệ. Theo các khảo sát, đầu tư cho R&D trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống thấp hơn so với các lĩnh vực khác từ 0,3 đến 0,8%.

THÁI LAN ĐẦU TƯ GẦN 7 TỶ USD VÀO CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM

Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) cho biết, tính lũy kế đến tháng 2/2016, các nhà đầu tư Thái Lan có 428 dự án đầu tư vào Việt Nam, tổng vốn đầu tư đạt khoảng 7,88 tỷ USD, xếp thứ 11 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.

Quy mô vốn bình quân một dự án của Thái Lan khoảng 18,4 triệu USD, cao hơn so với mức bình quân chung một dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là khoảng 14 triệu USD.

Theo đó, các dự án của Thái Lan chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 200 dự án và gần 7 tỷ USD vốn đầu tư (chiếm 88% vốn đầu tư của Thái Lan tại Việt Nam).

Đứng thứ hai là lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 31 dự án và 235 triệu USD vốn đầu tư. Còn lại tập trung vào các ngành bán lẻ, xây dựng…

Bà Rịa – Vũng Tàu là địa phương thu hút được nhiều vốn FDI của Thái Lan với 3,77 tỷ USD vốn đăng ký. Vĩnh Phúc đứng thứ hai với 744 triệu USD vốn đăng ký. Bình Dương đứng thứ ba với 513,4 triệu USD.

Tuy nhiên, xét về số lượng dự án đầu tư thì TP.HCM thu hút được nhiều dự án của Thái Lan nhất với 162 dự án.

Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, đầu tư của Thái Lan theo hình thức liên doanh chiếm tỷ lệ lớn với 5,5 tỷ USD. Tiếp theo là hình thức 100% vốn nước ngoài.

THỰC PHẨM ORGANIC: KHẢ QUAN CHỜ KHẢ THI

Cơ hội cho hạt gạo Việt Nam

Xu hướng tiêu dùng chuộng các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đang đặt ra nhiều cơ hội cho nông sản Việt Nam. Cơ hội này lệ thuộc vào cách làm không chỉ của từng doanh nghiệp (DN) mà phải có sự hợp lực từ nhiều phía…

Theo GS-TS. Võ Tòng Xuân, gạo sản xuất theo phương pháp hữu cơ cũng giống như các loại rau củ quả hay thịt gia cầm, tức không dùng hóa chất. Nhưng nếu nói rộng ra, hữu cơ ở đây được hiểu là không xịt thuốc hoá học.

“Theo tìm hiểu và chứng kiến những thửa ruộng trồng theo phương pháp hữu có ở Nhật Bản, tôi thấy, họ làm gạo hữu cơ hoàn toàn không dùng phân bón, chỉ lấy cỏ dại đắp chung quanh gốc lúa. Mỗi cây lúa lên lèo tèo vài bông với khoảng mười mấy hạt. Nếu hữu cơ như thế chắc nhân loại chết hết”, GS. Võ Tòng Xuân phân tích.

Chia sẻ thêm về vấn đề này, GS. Võ Tòng Xuân nói, ở Việt Nam đã có gạo hữu cơ hoàn toàn được sản xuất theo đúng khái niệm organic, đó là gạo Hoa Sữa được canh tác ở khu vực rừng U Minh (Cà Mau), với sự chứng nhận từ Bộ Nông nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ – USDA ( United State Department of Agriculture).

Đây là sản phẩm sinh thái thân thiện, không làm tổn hại đến môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn của USDA NOP (Chương trình Sản phẩm sạch của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ), được thị trường Mỹ chấp nhận. Đến nay, sản phẩm đã được xuất sang Anh nhưng số lượng rất ít, chỉ khoảng… 600 kg.

Từ kết quả ban đầu này, một số nơi ở Việt Nam đã mạnh dạn thí điểm trồng gạo hữu cơ hoàn toàn 100%, điển hình có tỉnh Sóc Trăng với thương hiệu gạo ST (giống ST) được mệnh danh là đặc sản của vùng, đã dần bị mất hương.

Tiếp xúc với bà Lê Thị Tú Anh, Tổng giám đốc Công ty CP Nông nghiệp GAP, đơn vị vừa hoàn thành giai đoạn 1 chương trình xúc tiến trồng thử nghiệm gạo organic với tên gọi “Tốt lúa lợi tôm” thông qua dự án “Hành trình 5 năm khẳng định chất lượng hạt gạo thơm Việt Nam và cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản” được triển khai từ tháng 7/2013 – 2017.

Bà Tú Anh nhìn nhận, Việt Nam được biết đến là nơi cung ứng gạo đứng nhất nhì thế giới, thế nhưng hầu hết đều xuất gạo giá rẻ và luôn phải đứng sau Thái Lan. Theo kết quả các công ty xuất khẩu gạo Việt Nam, do dư lượng thủy ngân trong gạo quá cao, nên hầu hết các mẫu gạo của Việt Nam khi đem chào ở Singapore, châu Âu đều bị trả về.

Chia sẻ từ hội thảo đầu bờ diễn ra ở Sóc Trăng ngày 3/1/2014, đại diện một DN lớn trong ngành xuất khẩu gạo tiết lộ “Việt Nam không có gạo thơm xuất khẩu, vì đưa đi bao nhiêu mẫu đều bị trả về. Nguyên nhân, gạo thơm rất dễ bệnh, càng bệnh thì càng xịt thuốc, chính điều này đã dẫn đến hệ lụy dư lượng thủy ngân cao”.

Trong khi đó, theo chia sẻ từ một công ty phân phối nông sản Việt Nam ở Hoa Kỳ (do một Việt kiều làm chủ), hiện nay, ở khu chợ người Việt thuộc tiểu bang Cali (Mỹ), gạo Thái cũng không còn được chuộng như trước. Vì sau thời gian sử dụng, gạo không còn thơm như ban đầu nên người tiêu dùng nghi ngờ gạo bị ướp hương.

“Đây sẽ là cơ hội cho gạo Việt Nam nếu quá trình phục tráng được nhân rộng”, bà Tú Anh nói. Vì thực tế, gạo Thái cũng trồng bằng phân hóa học nhưng điều họ hơn Việt Nam là mỗi năm, nông dân chỉ trồng một vụ lúa nên việc dùng thuốc bảo vệ thực vật cũng giảm hơn.

Do đó, vấn đề của gạo Việt Nam là phải hữu cơ hóa, thế nhưng làm hữu cơ như thế nào? Điều này lệ thuộc vào cách làm không chỉ của từng DN mà phải có sự hợp lực từ nhiều phía.

Chính danh Organic

Ở Việt Nam chưa có một tổ chức nào chứng nhận tiêu chuẩn đối với thực phẩm thuộc diện organic. Trong khi đó, để dễ vào thị trường Mỹ, sản phẩm của Việt Nam phải có được ít nhất hai chứng nhận Global Gap và USDA.

Thực phẩm sản xuất theo phương pháp hữu cơ đang dần trở nên phổ biến nhưng để minh chứng đâu là thực phẩm “organic” thì chỉ có người làm mới biết. Liên quan đến vấn đề này, GS. Võ Tòng Xuân dẫn giải, hiện nay, hai chứng nhận Global Gap và USDA đang được xem là chứng nhận quốc tế đối với thực phẩm sạch.

Song, với chứng chỉ USDA, thực phẩm sẽ dễ vào thị trường Mỹ hơn, dù rằng chi phí để xin cấp chứng chỉ USDA rẻ hơn so với chứng chỉ Global Gap. Ông nói thêm, ở Việt Nam chưa có một tổ chức nào chứng nhận tiêu chuẩn đối với thực phẩm thuộc diện “organic” nên hầu hết đều dùng khái niệm chung là thực phẩm hữu cơ để nói đến một sản phẩm sạch.

Tuy nhiên, hữu cơ ở đây cũng có năm bảy đường. Theo chia sẻ của một hộ trồng thanh long ở Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận, đối với những loại đất trồng đã bạc màu hoàn toàn thì việc hữu cơ hóa 100% ngay là điều không thể. Theo đó, quy trình organic phải tiến hành song song với việc giảm lượng thuốc hóa học dần kết hợp với bón phân hữu cơ. Sản phẩm được tạo ra từ việc kết hợp theo tỷ lệ 50:50 này không thể gọi là thực phẩm organic.

Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Lượng, chủ hộ sản xuất và cung ứng quả phúc bồn tử ở Đơn Dương, Lâm Đồng – đơn vị cung cấp phúc bồn tử cho những DN như Kem Fanny, Cánh đồng Vàng… cho hay, trước đây, sản phẩm của trang trại ông đăng ký trồng theo tiêu chuẩn Viet Gap nhưng trái còn chua.

Phúc bồn tử là loại trái thu hoạch hằng ngày, nên sâu bệnh cũng không ít, nên cần phải sử dụng thuốc hóa học, song điều này lại không đảm bảo tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Do đó, ông Lượng đã thử nghiệm phương pháp organic với phân hữu cơ nhập từ Mỹ trên 7.000ha.

Sau hai tháng, chất lượng trái ngọt hơn, to hơn và kèm theo đó là ít sâu bệnh hẳn. Ông Lượng cho rằng, chi phí dùng phân hữu cơ thế hệ mới (không phải đơn thuần là vỏ cà phê, bùn khoáng…) có chi phí cao hơn 20% so với dùng phân hóa học nhưng về lâu dài thì hiệu quả thu được cao hơn những gì bỏ ra.

Cụ thể là vừa cải tạo được đất trồng vừa nâng chất lượng trái, đồng thời đảm bảo được về mặt sức khỏe cho người làm (vì đa phần đều trồng trong kín, nên mỗi lần phun thuốc, bón phân hóa học ít nhiều sức khỏe của người làm đều bị ảnh hưởng). Hiện nay, ngoài cây phúc bồn tử, một số DN cũng đang thử nghiệm trồng ớt, hoa và một số loại rau theo phương pháp hữu cơ 100%.

Mô hình của GAP

Chi phí là điều khiến nông dân cân nhắc khi theo mô hình sản xuất hữu cơ hóa 100%.

Với chương trình thử nghiệm gạo hữu cơ của Công ty Nông nghiệp GAP, sau gần hơn 4 tháng triển khai, dự án kết hợp dùng phân hữu cơ trên cây lúa thơm giống ST5 và nuôi tôm, kết quả rất khả quan, với 100% tôm phát triển tốt, đồng thời lúa cũng đạt trung bình 30 giạ/công, có nơi đạt từ 35 – 40 giạ/công, cao hơn nhiều so với cách làm thông thường trước đây với mức phí tương đương nhau.

Đánh giá kết quả giai đoạn 1, bà Tú Anh chia sẻ, sau khi triển khai đồng loạt trồng lúa hữu cơ trên những vùng đất nhiễm mặn từ Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre… đều cho kết quả khả quan.

Tuy nhiên, từ ban đầu, Công ty Nông nghiệp GAP tiếp cận với quy trình trồng lúa hữu cơ không dễ. Đại diện DN này kể, khi họ đặt vấn đề hữu cơ hóa 100% trên đồng ruộng, không ai tin, từ bà con nông dân đến lãnh đạo các sở nông nghiệp hay phòng nông nghiệp tỉnh. Trải qua buổi hội thảo, giới thiệu, thuyết phục GAP nhận được lượng người đăng ký tham gia với gần 4.000 ha.

Nhưng sau vài ngày, cuối cùng chỉ có hơn 400 ha. Dù rằng, GAP cam kết mua lúa cho dân cao hơn thị trường 5% trong 3 năm đầu, năm thứ tư sẽ cao hơn 20%. Thêm vào đó, ở giai đoạn 1, GAP cho nông dân nợ 80% tiền phân và thuốc, không lãi suất, giảm 15% trên giá bán, trả sau thu hoạch. Và ở giai đoạn 2, GAP cho nợ 100% không lãi suất, cuối vụ mới trả tiền.

Thực tế, bài toán chi phí phân, thuốc là điều khiến nông dân cân nhắc khi theo mô hình hữu cơ hóa 100%. Chí phí phân hữu cơ không hề rẻ chính là yếu tố khiến nông dân chưa dám mạnh dạn đầu tư không chỉ trên cây lúa mà còn trên nhiều cây hoa màu và trái cây khác.

Hiểu được vấn đề này, phía GAP cam kết chi phí dùng phân, thuốc hữu cho nông dân không quá 13 triệu đồng/ha (ruộng 2 vụ). Và không quá 14 triệu đồng/ha (ruộng 3 vụ). Mức phí này tương đương với việc dùng phân hóa học nhưng lại có hiệu quả lâu dài cho đất.

Tính đến nay, theo chia sẻ của bà Tú Anh, Công ty đã bỏ ra hơn 20 tỷ đồng cho giai đoạn 1 của dự án (chủ yếu là cho người nông dân nợ và mua lúa cho dân). Nguồn vốn đầu tư này chủ yếu từ vay mượn người thân và vay thế chấp, trong khi đó, phía các ngân hàng Việt Nam chưa mấy mặn mà với dự án vì cho rằng dự án chưa có kết quả cụ thể.

Phía Công ty và đối tác nhập khẩu ở Mỹ cũng đã tiếp cận với Ngân hàng Eximbank (Hoa Kỳ) nhưng cũng chỉ tiếp cận được khoản vay từ 500.000 – 1 triệu USD, chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ trong toàn bộ dự án.

Do đó, phía đối tác ở nước ngoài là Công ty Green Rice Fields Trading,Inc (vừa cung ứng phân bón hữu cơ về Việt Nam, vừa tìm đầu ra cho nông sản Việt sang Mỹ và Canada) cũng đang tích cực vận động để tiếp cận nguồn quỹ từ Bộ Nông nghiệp Mỹ.

Nếu phía ngân hàng Việt Nam hỗ trợ về mặt chứng từ pháp lý thì GAP sẽ nhận được khoản vay với lãi suất thấp trong thời hạn 10-18 năm. “Tôi kỳ vọng phía ngân hàng Việt Nam xem xét và có kết quả kiểm định để giúp chúng tôi giải quyết về vấn đề nguồn vốn”, đại diện GAP chia sẻ.

MASAN VÀ TÍN HIỆU CUỘC CHIẾN MỚI NGÀNH ĐỒ UỐNG

Miếng ngon thì khó xơi

Sau khi kiểm soát Vinacafe Biên Hòa (VCF) hồi đầu năm 2012 để nắm ngôi vị quán quân thị phần cả nước với sản phẩm cà phê hòa tan, Masan lại tiếp tục rót vốn vào Vĩnh Hảo nhằm thực hiện tiếp tham vọng ở ngành hàng đồ uống đóng chai. Đến nay, Masan đã nắm chi phối đến 63,5% cổ phần Vĩnh Hảo.

Cùng với VCF, sở hữu Vĩnh Hảo không chỉ giúp Masan tăng doanh thu mà còn giúp Masan thâm nhập sâu vào ngành hàng đồ uống.

Sức hút của ngành hàng đồ uống đóng chai trong thời gian gần đây đủ khiến các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) nôn nóng, ngay cả với Masan.

Theo nghiên cứu của Euromonitor, quy mô thị trường đồ uống Việt Nam có giá trị khoảng 54.000 tỉ đồng. Bên cạnh đó, tỉ lệ tăng trưởng kép (CAGR) hàng năm của ngành hàng trà đóng chai trong giai đoạn 2007 – 2012 đạt trên 48% cũng là con số đáng khao khát. Đây là sân chơi lớn khiến Masan muốn bước chân vào. Và điều đó cũng đồng nghĩa với việc Masan đang tham gia vào cuộc cạnh tranh gay gắt.

Hiện tại, các ông lớn trong ngành đã có vị thế ổn định và liên tục mở rộng đầu tư tạo ra thách thức không nhỏ cho những kẻ đến sau như Masan. Tân Hiệp Phát, đơn vị dẫn đầu thị phần trà đóng chai đã triển khai xây hai nhà máy mới ở Chu Lai (Quảng Nam) và ở Hà Nam (đồng bằng sông Hồng) trong năm rồi.

Cuối năm 2012, tập đoàn đa quốc gia Nestlé cũng đã rót thêm 12 triệu USD để xây dựng dây chuyền mới tại Long An cho sản phẩm nước khoáng LaVie, nâng tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực này lên gấp đôi. Không chỉ vậy, các doanh nghiệp ngoài ngành cũng muốn nhảy vào.

Chẳng hạn như Ngô Han, doanh nghiệp sản xuất dây đồng ở Đồng Nai bất ngờ mua Nước khoáng Cúc Phương ở Ninh Bình. Công ty Bất động sản Năm Bảy Bảy cũng thông qua một công ty con tham gia khai thác nước khoáng ở Quảng Ngãi với công suất hơn 32 triệu lít/năm.

Trong khi đó, sau khi mua Vĩnh Hảo, Masan đặt mục tiêu doanh số cho mảnh ghép mới này ở mức 3.000 – 5.000 tỷ đồng trong vài năm tới, một tham vọng lớn nếu so với doanh số chưa tới 500 tỷ đồng trong năm 2012 của Vĩnh Hảo.

Định nghĩa lại thị trường?

Tham gia vào thị trường đồ uống giữa lúc áp lực cạnh tranh trở nên gay gắt nhất, điều này đòi hỏi Masan phải có những chiến lược đột phá hơn những gì thường thấy. Vĩnh Hảo và VCF là hai đơn vị có lợi thế về thương hiệu lâu năm nhưng có lẽ vẫn chưa đủ giúp Masan tạo ra đột phá như với ngành hàng thực phẩm trước đây.

Giám đốc khối tư vấn doanh nghiệp của một quỹ đầu tư tại Tp.HCM cho rằng, mở rộng danh mục sản phẩm là hướng đi đúng nhưng cần nhiều đến yếu tố sáng tạo. Mở rộng sang các sản phẩm tương tự mà thị trường đang có sẽ khiến Vĩnh Hảo trở thành kẻ theo đuôi.

Về Masan, ông Venkatesh – Giám đốc Chiến lược và Nguồn vốn tổ chức của Masan Group cho biết, dựa trên nền tảng sản phẩm đã có của Vĩnh Hảo, Masan sẽ mở rộng danh mục sản phẩm để đáp ứng các khẩu vị và sở thích khác nhau của người tiêu dùng.

Có thể thấy sau khi về với Masan, ngoài sản phẩm cà phê hòa tan truyền thống, VCF đã cho ra đời các sản phẩm mới ở phân khúc bình dân như cà phê hòa tan 3 trong 1 Wake Up, cà phê Phinn 2 trong 1… trong thời gian khá ngắn. Có thể xem đây là bước đầu trong chiến lược về sản phẩm mới của VCF, nhờ tận dụng bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) của Masan. Sau khi tích hợp, Vĩnh Hảo cũng sẽ hưởng lợi từ bộ phận này.

Đối với ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) nói chung, bên cạnh khả năng xây dựng thương hiệu và phát triển sảm phẩm mới, hệ thống phân phối còn là yếu tố sống còn quyết định sự thành công của doanh nghiệp.

Nhưng Vĩnh Hảo và VCF vẫn có thể tận dụng được hệ thống phân phối rộng lớn của Masan. Còn nhớ, trước khi về với Masan vào cuối năm 2011, VCF chỉ có 125 nhà phân phối và đại lí với danh mục sản phẩm nghèo nàn.

Nhưng đến năm 2012, nhờ tận dụng từ Masan mà VCF đã thay đổi đáng kể. Doanh thu năm này tăng đến 40% nhờ mở rộng hệ thống bán hàng qua 176.000 điểm bán của Masan và giới thiệu sản phẩm mới.

Theo vị giám đốc đầu tư trên, hệ thống phân phối dày đặc của Masan là một lợi thế lớn giúp Vĩnh Hảo và VCF nhanh chóng mở rộng thị trường. Đối với ngành hàng đồ uống thì sự hiện diện sản phẩm tại các kênh hàng quán cũng rất quan trọng. Vì vậy, trong tương lai gần Masan cũng sẽ không bỏ qua cơ hội để thâm nhập sâu vào kênh phân phối này, vị này đánh giá.

Masan cho biết đã thành lập phòng ban tập trung cho ngành hàng đồ uống là Masan Beverage với nhiều nhân sự nhiều kinh nghiệm trong ngành. Dẫn dắt nhóm này là ông Lê Trung Thành, người từng là Phó tổng giám đốc PepsiCo Việt Nam. Ông Thành đã từng tạo nên không ít dấu ấn với các mặt hàng tiêu dùng nhanh của Pepsico như nhãn hàng Sting, nước tinh khiết Aquafina hay chuỗi sản phẩm snack Poca.

Chuẩn bị nguồn lực là điều tất yếu phải làm trước khi bước vào thế trận khốc liệt như ở thị trường đồ uống. Ông Venkatesh cho biết, Masan quan tâm hơn đến giải pháp thu hút người tiêu dùng sử dụng sản phẩm để mở rộng qui mô thị trường (converting) hơn là đối đầu cạnh tranh (competing).

Miếng ngon thường không dễ bỏ, các ông lớn trong ngành chắc chắn sẽ dè chừng với tân binh Masan. Cuộc chiến trong ngành đồ uống đóng chai sắp tới, chắc chắn sẽ trở nên quyết liệt hơn.

NGÀNH ĐỒ UỐNG ĐƯỢC DỰ BÁO TĂNG TRƯỞNG MẠNH

Tỷ lệ tăng trưởng của ngành khá mạnh và có khả năng tăng nhanh trong các năm tiếp theo.

Dự báo tăng trưởng của ngành đồ uống sẽ tăng 7,5% vào năm 2015 – 2016 và doanh thu sẽ tăng 10,5% khi người tiêu dùng bắt đầu sử dụng các loại đồ uống có giá trị cao hơn. Trong đó, bia vẫn tiếp tục giữ vai trò chiếm lĩnh thị trường cả về doanh số lẫn doanh thu.

Thông tin thị trường chứng khoán và các tin tức đáng chú ý khác: TP.HCM: Rủi ro từ các hợp đồng kêu gọi góp vốn vào dự án bất động sản; Hải Dương: Nông dân thất thu vì giá ổi giảm mạnh; Nam Phi: Người nhập cư đóng cửa hàng vì lo sợ làn sóng bài ngoại; … sẽ tiếp nối bản tin. Mời quý vị tiếp tục theo dõi.

Chúc mừng đến với WordPress. Đây là bài viết đầu tiên của bạn. Hãy chỉnh sửa hay xóa bài viết này, và bắt đầu viết blog!